Nấm Linh Chi có 6 loại và dược phân loại theo
như sau: Màu xanh (thanh chi), màu hồng (hồng chi), màu vàng (hoàng chi), bạch
chi (ngọc chi), hắc chi (huyền chi), màu tím (tử chi).
Hồng Chi Fusi là sản phẩm áp dụng công nghệ sinh học cao để thu
chiết và bào chế ra những sợi thể nấm linh chi thuộc chuẩn Linh Chi Hồng.
1- Nguồn gốc, tên gọi
- Nguồn gốc: Hồng Chi fusi được thu chiết và bào chế
từ sợi thể (thể sợi) nấm Linh Chi.
- Tên gọi của Linh chi:
+ Tên chung khoa học: Ganoderma lucidum.
+ Tên thường gọi: Linh Chi (ở Việt Nam), Reishi (ở Nhật Bản), Lingzhi
(ở Trung Quốc)…
+ Tên gọi khác: Linh chi thảo, nấm trường thọ, thuốc thần tiên…
2- Dạng bào chế, thành phần và hàm lượng
- Dạng bào chế: Hồng Chi Fusi được tinh chế
100% từ sợi thể Linh Chi nguyên chất mà không cho thêm bất kỳ tá dược nào khác.
- Thành phần và hàm lượng: Hồng Chi fusi chứa tới
120 chất, bao gồm:
+ Các hợp chất hữu cơ: hơn 200 loại polysaccharid, flavonoid, hơn
100 loại triterpenoid (quan trọng nhất là acid ganodenic), saponin, steroid,
chất béo, đường khử, ergosterol, alkaloid trợ tim, glucosamin, polypeptid tạo
ra các acid amin thiết yếu và acid amin khác.
+ Hơn 40 nguyên tố vi lượng, đa lượng đã được tìm thấy trong Linh
chi như: Selen, Germani, Kẽm, Kali, Magiê, Canxi, Phospho…). Trong đó Germani
(một nguyên tố đem lại hoạt tính dược lý mạnh) trong Linh chi cao hơn trong
nhân sâm từ 5- 8 lần.
+ Các vitamin cần thiết cho cơ thể..
Dạng sợi thể linh chi:
+ Là quá trình nuôi cấy, chiết lọc đưa vào chế biến ngay từ giai
đoạn cơ thể nấm ở dạng sợi thể.
+ Vào giai đoạn sợi thể (hay thể sợi), các thành phần các hợp chất
trong Linh chi đa dạng nhất và chiếm hàm lượng cao nhất, những polysaccharid có
hoạt tính sinh học chưa bị hoá gỗ (cellulose hoá), các chất hữu cơ chưa bị phân
giải để tạo hình khối quả thể. Dạng sợi thể chứa tới 1,88% acid amin. Chính do
thu hái ngay từ giai đoạn thể sợi này mà tác dụng của Hồng Chi Fusi là tối ưu.
+ Khi dùng công nghệ lên men và thu hoạch ngay ở giai đoạn sợi thể
sẽ hạn chế được tới mức thấp nhất nguyên tố độc hại như chì (Pb) và cadimi (Cd)
lẫn vào nấm, đồng thời vẫn đảm bảo có đủ các nguyên tố vi lượng hữu ích khác.
+ Dạng sợi thể kiểm soát được quá trình nuôi trồng nên tránh được
thừa hoặc thiếu những nguyên tố vi lượng gây mất cân bằng. Điều này rất ý nghĩa
trong đời sống sinh học, vì các nguyên tố vi lượng tham gia xúc tác các phản
ứng sinh học, nên chỉ cần sai lệch một lượng nhỏ là có thể ảnh hưởng nghiêm
trọng.
+ Dạng sợi thể chưa hóa gỗ nên lớp vách và màng tế bào nấm dễ dàng
cho các chất khuếch tán qua. Vì vậy, dạng sợi thể khi pha uống, các hợp chất
được chứa trong tế bào nấm sẽ dễ dàng giải phóng ra ngoài để cơ thể người hấp
thu nhanh chóng.
+ Thể sợi chứa hàm lượng triterpenoid cao hơn rất nhiều so với các
loại Linh chi lâu năm đã hoá gỗ.
Như vậy, Linh chi không chỉ là một thứ thuốc đơn giản, mà còn có
nhiều đặc tính khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn thu hái và môi trường chúng
sinh trưởng.
3- Dược lý, cơ chế tác dụng và ứng dụng lâm sàng
1) Điều tiết hệ thần kinh trung ương
2) Tăng khả năng miễn dịch, hạn chế bệnh tật do làm gia tăng sản
sinh số lượng cũng như hoạt hoá tế bào miễn dịch lympho T, làm tăng khả năng
thực bào.
3) Cải thiện chức năng nội mạc, giảm hàm lượng triglycerid và
lipoprotein không tốt (LDLc), đồng thời tăng hàm lượng lipoprotein tốt (HDLc),
ừ đó giúp điều chỉnh rối loạn lipid máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, ức chế kết
tập tiểu cầu nên ngăn ngừa huyết khối gây tắc mạch máu.
4) Điều hoà huyết áp, làm bền thành mạch, tăng sức co bóp cơ tim
mà không làm tăng nhu cầu oxy cơ tim, lợi cho bệnh nhân mạch vành, nhồi máu cơ
tim.
5) Chống lão hoá do trung hoà kịp thời các gốc tự do trong cơ thể
từ các quá trình sinh học hay các căng thẳng môi trường tác động.
6) Bảo vệ tế bào, tăng cường trí nhớ do tăng tuần hoàn và ngăn
chặn quá trình chết tế bào diễn ra trong cơ thể.
7) Ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị các cơn hen suyễn mãn tính do Linh
chi có khả năng giãn cơ trơn phế quản, ức chế các phản ứng kháng nguyên kháng
thể, làm ổn định màng tế bào mast để hạn chế giải phóng các chất trung gian hoá
học gây ra viêm và hen.
8) Tăng cường chuyển hoá các chất trong cơ thể nhờ vào vai trò các
nguyên tố vi lượng trong Linh chi, đã xác định rõ vai trò của germani, tham gia
xúc tác chuỗi phản ứng hoá sinh trong cơ thể.
9) Tăng khả năng tổng hợp các acid nucleic nhân tế bào (ADN, ARN),
sinh tổng hợp protein nên có khả năng kích thích cơ thể tạo ra tế bào mới thay
thế những tế bào cũ của cơ thể đã bị già nua.
10) Làm chậm, làm tiêu giảm các tế bào khối u.
11) Một thành phần của polysaccharid trong Linh chi là
oligosaccharid có tác dụng cải thiện hệ tuần hoàn ngoại vi ở da, tăng lưu thông
trao đổi chất, tăng khả năng vận chuyển oxy của huyết cầu tố (hemoglobin).
Ngoài ra, Linh chi còn có các tác dụng khác như làm tăng sức lọc
cầu thận.
4- Liều lượng và cách dùng
- Dùng nước nóng (60-70độ C) để pha uống: bóc gói Hồng chi FUSI đổ
vào cốc sau đó đổ nước vào khuấy đều cho tan rồi uống hết.
- Hiệu quả của Linh chi tương đối chậm, khoảng 2-3 ngày mới có hiệu
quả, có trường hợp 10-30 ngày nhưng hiệu quả ổn định, khi điều trị một bệnh nào
đó làm thuyên giảm các bệnh khác, điều trị một cách tổng thể, nâng cao toàn thể
trạng và phòng ngừa bệnh.
- Dùng cho người lớn 2 gói 1 ngày và trẻ em dưới 6 tuổi dùng bằng
½ người lớn. Trong trường hợp bị suy kiệt hay cần hỗ trợ sức khỏe nhanh thì
dùng gấp đôi.
5- Lưu ý và độc tính
Hiệu quả của Linh chi tương đối chậm,khoảng 2-3 ngày mới có hiệu
quả, có trường hợp 10-30 ngày, nhưng hiệu quả ổn định, khi điều trị một bệnh
nào đó làm thuyên giảm cả những bệnh khác - điều trị một cách tổng thể, nâng
cao toàn thể trạng và phòng ngừa bệnh.
Các chế phẩm Linh chi đã được thử nghiệm chống khối u sarcoma ở
chuột bới Ito et al (1977). Họ đã chứng minh rằng các chế phẩm có hiệu quả cao
và không độc tính.
Linh chi là vị thuốc đã được chắt lọc sử dụng hơn 2000 năm trước
công nguyên đã được lưu trong cuốn sách cổ vĩ đại về y dược hoạc của Trung Hoa
và thế giới - "Thần nông bản thảo" cũng như lịch sử ghi chép về sự
sùng bái của Tân Thủy Hoàng - vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc cổ đại. Tiếp
đến cuốn "Bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân (1513-1593) đời
nhà Minh, đã nhấn mạnh lần nữa vai trò to lớn của Linh chi trong y dược
học. Và ở Việt Nam, Linh chi được nhắc đến từ các cuốn "Nam dược thần
hiệu" của Tuệ Tĩnh, "Hải thượng y tông tâm lĩnh" của Hải thượng
lãn ông Lê Hữu Trác và rất nhiều sách tạp chí y dược học cận đại đều khẳng định
vai trò trị bệnh hiệu quả và hầu như không có độc tính của Linh chi.
6- Bảo quản
Bảo quản nơi khô mát, tránh ánh nắng mặt trời.
7- Quy cách đóng gói
Một hộp gồm 24 gói, mỗi gói chứa 5gr bột sợi thể Hồng chi